THEO DÕI TÍCH CỰC LÀ BƯỚC ĐẦU TIÊN TRONG ĐIỀU TRỊ VI UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ NHÚ

 

Vi ung thư tuyến giáp thể nhú (PMC) được định nghĩa là ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú ≤10 mm. Theo dõi tích cực bệnh nhân vi ung thư tuyến giáp thể nhú không có đặc điểm nguy cơ cao như di căn hạch trên lâm sàng, di căn xa, bằng chứng lâm sàng của xâm lấn ngoài tuyến giáp, đã được thực hiện đầu tiên tại hai bệnh viện Nhật Bản vào giữa những năm 1990. Phương pháp này được đưa vào hướng dẫn tại Nhật Bản vào năm 2010 và ở Hoa Kỳ vào năm 2015. Trong các nghiên cứu được thực hiện bởi cả hai bệnh viện, hầu hết các vi ung thư tuyến giáp thể nhú phát triển rất chậm hoặc không phát triển và không có bệnh nhân nào cho thấy di căn xa hoặc chết vì ung thư tuyến giáp trong quá trình theo dõi tích cực. Hơn nữa, không có bệnh nhân nào phẫu thuật sau khi phát hiện dấu hiệu tiến triển trong quá trình theo dõi cho thấy tái phát. Vì thế, các tác giả đã kết luận rằng theo dõi tích cực nên là bước đầu tiên trong điều trị PMC nguy cơ thấp, vì nó an toàn hơn và ít tốn kém hơn so với phẫu thuật ngay lập tức. Theo dõi tích cực giúp tránh các tác dụng phụ của phẫu thuật và là một phương pháp kinh tế.

Chống chỉ định theo dõi tích cực đối với các bệnh nhân vi ung thư tuyến giáp thể nhú sau:

  1. Có đặc điểm nguy cơ cao trên lâm sàng:
  • Có di căn hạch hoặc di căn xa
  • Có dấu hiệu hoặc triệu chứng của xâm lấn dây thần kinh quặt ngược hoặc khí quản
  • Tế bào có độ ác tính cao
  • Tiến triển trong quá trình theo dõi
  1. Có đặc điểm lâm sàng không phù hợp cho theo dõi mặc dù không có xâm lấn rõ ràng trên lâm sàng như khối u nằm gần khí quản hoặc dây thần kinh thanh quản quặt ngược.

Năm 2010, lần đầu tiên hướng dẫn được công bố bởi hội phẫu thuật nội tiết và hội phẫu thuật tuyến giáp Nhật Bản, trong hướng dẫn này, theo dõi tích cực được chấp nhận là lựa chọn đầu tiên trong điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú nguy cơ thấp. Năm 2015, hội tuyến giáp Hoa kỳ (ATA) cũng chấp nhận điều này. Hướng dẫn của ATA không khuyến cáo chọc tế bào nhân giáp ≤10 mm trừ khi chúng gây ra triệu chứng (ví dụ: liệt dây thần kinh quăt ngược) hoặc có di căn hạch và/hoặc di căn xa

Bệnh nhân được theo dõi tích cực sẽ được tái khám sau 6 tháng. Nếu không có dấu hiệu tiển triển, lan rộng, di căn hạch, bệnh nhân sẽ tái khám sau 1 năm. Khối u được cho là lan rộng khi kích thước tăng thêm 3mm trở lên so với lúc ban đầu . Tuy nhiên, bệnh nhân tiếp tục được theo dõi cho đến khi kích thước khoảng 12 mm bởi vì sự thay đổi kích thước của PMC thường dao động. Nếu phát hiện hạch nghi ngờ di căn, bệnh nhân được thực hiện chọc tế bào kim nhỏ và định lượng nồng độ thyroglobulin. Nếu chẩn đoán di căn hạch, bệnh nhân được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, nếu không được chẩn đoán tiển triển, bệnh nhân tiếp tục được theo dõi.

Trái ngược với ung thư tuyến giáp nói chung, vi ung thư tuyến giáp nguy cơ thấp ít phát triển ở bệnh nhân già hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi và trung tuổi.

Một số nhỏ bệnh nhân vi ung thư tuyến giáp thể nhú tiển triển trong quá trình mang thai, nhưng thời điểm phẫu thuật phù hợp là sau khi sinh, chỉ định theo dõi tích cực cũng phù hợp cho phụ nữ có khả năng mang thai.

Ở Nhật Bản, theo dõi tích cực có hiệu quả kinh tế hơn so với phẫu thuật ngay, nhưng điều này có thể khác ở các đất nước khác nhau.

 

 

Please follow and like us:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Top
Follow by Email
Facebook
Google+
http://www.ungthuvn.com/theo-doi-tich-cuc-la-buoc-dau-tien-trong-dieu-tri-vi-ung-thu-tuyen-giap-the-nhu">
Twitter
YouTube