CHĂM SÓC DA VÀ NIÊM MẠC TRONG XẠ TRỊ UNG THƯ ĐẦU CỔ

CHĂM SÓC NIÊM MẠC

  1. Đại cương

Xạ trị là phương pháp điều trị được sử dụng rộng rãi trong điều trị ung thư vùng đầu cổ. Xạ trị đơn thuần hoặc kết hợp với phẫu thuật, hóa chất làm tăng tỷ lệ điều trị khỏi bệnh và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân. Tuy nhiên, liều xạ cao trong diện rộng bao gồm cả niêm mạc miệng gây ra nhiều tác dụng phụ trong và sau quá trình xạ trị. Điều trị đa mô thức là giải pháp tốt nhất để giảm thiểu và phòng tránh các tác dụng phụ này.

Viêm niêm mạc miệng là tình trạng viêm màng nhầy của khoang miệng và hầu họng được mô tả bởi hồng ban mô, phù nề và teo, thường tiến triển thành loét.

  1. Nội dung
  2. Biểu hiện lâm sàng

Trên lâm sàng, viêm niêm mạc biểu hiện với nhiều triệu chứng phức tạp. Thường bắt đầu bằng ban đỏ, tiển triển thành đốm trắng bong vảy, đau nhẹ. Sau đó, các tổn thương phát triển rộng, đau nhiều làm khó nuốt, giảm ăn uống. Niêm mạc không sừng hóa bị ảnh hưởng nhiều nhất, những vị trí thường bị ảnh hưởng nhất như niêm mạc môi, má, khẩu cái mềm, sàn miệng, bề mặt lưỡi. Những tổn thương ở miệng thường lành sau 2-3 tuần.

  1. Giai đoạn
Độ Biểu hiện
1 Niêm mạc miệng bình thường
2 Ban đỏ, đau nhức
3 Loét, có thể ăn được thức ăn đặc
4 Loét, phải ăn thức ăn lỏng
5 Loét, không thể nuôi dưỡng bằng đường miệng.
  1. Điều trị, chăm sóc

Điều trị viêm niêm mạc miệng bao gồm: kiểm soát đau, hỗ trợ dinh dưỡng, phòng tránh nhiễm trùng miệng, giảm khô miệng, điều trị chảy máu và các biện pháp can thiệp khác.

Điều trị đau

Triệu chứng thường gặp nhất của viêm niêm mạc miệng là đau. Đau ảnh hưởng đến ăn uống, chăm sóc răng miệng, chất lượng cuộc sống. Vì vậy, điều trị đau là một phần chính trong chiến lược điều trị viêm niêm mạc miệng. Nhiều trung tâm sử dụng nước muối, nước đá, nước súc miệng có chứa thuốc tê như lidocain 2%. Ngoài điều trị tại chỗ, những bệnh nhân đau nhiều cần thuốc giảm đau toàn thân, bao gồm cả morphin.

Cung cấp dinh dưỡng

Thức ăn mềm, thức ăn lỏng thì dễ dung nạp hơn chế độ ăn bình thường khi niêm mạc bị viêm. Nuôi dưỡng qua ống sonde dạ dày có nhiều lợi ích khi viêm nặng.

Kháng khuẩn chọn lọc

Niêm mạc miệng chứa rất nhiều vi khuẩn làm trầm trọng thêm tình trạng viêm niêm mạc miệng. Sử dụng các viên ngậm kháng sinh polymyxin E, tobramycin, and amphotericin B cho thấy lợi ích trong phòng ngừa viêm miêm mạc miệng ở bệnh nhân xạ đầu cổ. Ngoài ra việc thêm ciprofloxacin hoặc ampicillin với clotrimazole vào Sucralfate giúp làm giảm viêm niêm mạc.

Vệ sinh răng miệng

Người bệnh và người chăm sóc cần được giáo dục về tầm quan trọng của vệ sinh răng miệng. RTOG và MASCC / ISOO khuyến cáo sử dụng các biện pháp chăm sóc cơ bản gồm đánh răng bằng bàn chải mềm, sử dụng chỉ nha khoa, súc miệng với nước muối hoặc bicarbonat.

Giảm khô miệng

Bệnh nhân điều trị xạ trị có thể khô miệng thoáng qua hoặc vĩnh viễn. Khô miệng làm trần trọng hơn tình trạng viêm, tăng nhiễm trùng tại chỗ, khó khăn trong ăn uống. Nhấp nước là cần thiết để giảm bớt khô miệng, có một số sản phẩm hỗ trợ như nước bọt nhân tạo. Súc miệng nửa thìa cà phê soda với một cốc nước ấm vài lần trong ngày. Nhai kẹo cao su để kích thích tiết nước bọt. Sử dụng thuốc cholinergic khi cần thiết.

Các biện pháp can thiệp khác

  • Kaolin pectin
  • Các yếu tố tăng trưởng
  • Thuốc kháng viêm: Benzydamine hydrochloride, Saforis, Amifostine, RK- 0202, Beta carotene
  • Thuốc tăng cường miễn dịch: Pentoxifylline, Indomethacin, Immunoglobulin,
  • Cytokines: cytokine interleukin-1, interleukin-2, yếu tố tăng trưởng biểu bì, interleukin-11, và biến đổi yếu tố tăng trưởng-beta
  • G-CSF, GM-CSF
  • Thuốc kháng virus: Acyclovir
  • Kháng nấm: Clotrimazole troches, Fluconazole
  • Liệu pháp lazer liều thấp
  • Tiếp cận mới: Palifermin, Amifostine

CHĂM SÓC DA

  1. Đại cương

Viêm da là một trong những biến chứng thường gặp nhất của xạ trị ung thư, chiếm khoảng 95% bệnh nhân xạ trị. Tác dụng phụ trên da do xạ trị có thể được chia làm hai nhóm là phán ứng sớm – thường xảy ra trong khoảng 90 ngày từ khi bắt đầu xạ trị, phán ứng muộn – thường biểu hiện từ vài tháng đến vài năm sau khi xạ trị kết thúc.

Viêm da do tia xạ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân do đau và khó chịu. Ngoài ra còn gây gián đoạn, kết thúc điều trị sớm, dẫn đến điều trị không đầy đủ.

  1. Nội dung
  2. Biểu hiện lâm sàng

Viêm da cấp do cạ trị thường xảy ra trong vòng 90 ngày từ khi bắt đầu điều trị. Sự thay đổi trên dạ phụ thuộc vào liều xạ, bao gồm ban đỏ, phù nề, thay đổi sắc tố, rụng lông tóc, tróc vảy khô và chảy dịch.

Biểu hiện Liều (Gy)
Ban đỏ/ thay đổi sắc tố 2 – 20
Rụng lông 1 – 6
Tróc vảy khô 20 – 25
Tróc vảy ướt 30– 40
Loét >40
  1. Giai đoạn

Mức độ viêm da do xạ trị có thể được phân loại theo RTOG

Độ Biểu hiện
0 Không thay đổi
1 Ban đỏ, tróc vảy khô, rụng lông
2 Ban đỏ tươi, tróc vảy ướt, phù nề
3 Tróc vảy ướt, Phù ấn lõm
4 Loét, chảy máu, hoại tử


Hình 1. Quá trình diễn tiến của viêm da do xạ trị gồm 4 giai đoạn của da trắng (A-D) và của da màu (E-H)

  1. Điều trị, chăm sóc

Điều trị viêm da do xạ trị dựa vào mức độ nặng và biện pháp chăm sóc da chung, phòng tránh nhiễm trùng da thứ phát và sử dụng băng gạc.

Độ 1: Bệnh nhân viêm da nhẹ với ban đỏ mờ, tróc vảy khô. Với hầu hết bệnh nhân, không cần điều trị gì đặc biệt. Tróc vảy khô có thể được điều trị bằng kem dưỡng ẩm háo nước. Corticoid tại chỗ hiệu lực trung bình có thể dùng để kiểm soát ngứa và rát. Kháng histamin không có hiệu quả trong điều trị ngứa trong viêm da do xạ trị.

Độ 2-3: Bệnh nhân viêm da với tróc vảy ướt vùng da nếp gấp và các vùng khác. Điều trị bao gồm các biện pháp nhằm ngăn ngừa nhiễm trùng da thứ phát và băng trên vùng da tróc. Nếu có nhiễm trùng thứ  phát, liệu trình chuẩn cho nhiễm vi khuẩn là bắt đầu với kháng sinh tại chỗ và/hoặc toàn thân. Đối với da tróc vảy sử dụng các băng bọt biển bằng silicon mềm, hút ẩm. Việc sử dụng những băng này làm tăng tỷ lệ tái tạo biểu mô và tăng tốc độ lành vết thương.

Độ 4: Viêm da xạ trị độ 4 thì hiếm gặp, biểu hiện với hoại tử toàn bộ bề dày của da và loét. Nhưng bệnh nhân này nên được điều trị theo từng trường hợp. Điều trị yêu cầu ngừng xạ trị và các một phương pháp đa mô thức gồm nhiều chuyên khoa như chấn thương, xạ trị, da liễu, điều dưỡng. Điều trị có thể gồm phẫu thuật cắt bỏ, ghép da, ghép vạt da.

  1. Phòng ngừa

Các biện pháp chăm sóc da chung:

  • Duy trì khu vực chiếu xạ khô ráo và sạch sẽ
  • Rửa bằng nước ấm và xà phòng nhẹ
  • Sử dụng kem dưỡng ẩm
  • Tránh các chất kích ứng da như nước hoa, kem bôi có cồn
  • Mặc quần áo rộng tránh ma sát
  • Tránh ánh nắng mặt trời

Corticoid tại chỗ: Một số loại corticoid tại chỗ giúp ngăn ngừa viêm da do xạ trị và điều trị ngứa, khó chịu. Ví dụ như mometasone furoate 0.1%, kem hydrocortison 1% bôi 1-2 lần/ ngày sau mỗi lần xạ trị.

Các loại thuốc bôi tại chỗ và toàn thân khác được nghiên cứu nhưng không có bằng chứng cho thấy hiệu quả trong phòng và điều trị viêm da do xạ trị.

Tài liệu tham khảo

1.      Radiation Induced Oral Mucositis (https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2902123/)

2.      Management of Oral Mucositis in Patients with Cancer (https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2266835/

3. Radiation dermatitis (https://www.uptodate.com/contents/radiation-dermatitis?search=radiation%20dermatitis&source=search_result&selectedTitle=1~27&usage_type=default&display_rank=1

4. DeVita, Hellman, Rosenberg “Oral complication” “Cancer Principles and Practice of Oncology 10E medilibros”

Please follow and like us:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Follow by Email
Facebook
Google+
http://www.ungthuvn.com/cham-soc-da-va-niem-mac-trong-xa-tri-ung-thu-dau-co">
Twitter
YouTube