CẬP NHẬT KHUYẾN CÁO VỀ SỬ DỤNG CEA TRONG UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

Kháng nguyên Carcinoembryonic (CEA) là một dấu ấn  của ung thư đại trực tràng

Kháng nguyên Carcinoembryonic (CEA) không được khuyến cáo sử dụng làm xét nghiệm sàng lọc ung thư đại trực tràng.

Theo các nghiêm cứu, CEA có độ đặc hiệu cao trong  xác định ung thư đại trực tràng tiềm ần nhưng độ nhạy rất thấp. Theo đó, CEA không nên được sử dụng để sàng lọc trong ung thư đại trực tràng. Khuyến cáo này phù hợp với khuyến cáo năm 2003 về CEA của Châu Âu về  chất chỉ điểm khối u (EGTM).

Khuyến cáo năm 2006 về xét nghiệm CEA trước phẫu thuật.

CEA có thể được thực hiện trước phẫu thuật ở những bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng nếu nó hỗ trợ cho xác định giai đoạn và lập kế hoạch điều trị phẫu thuật. Mặc dù CEA trước phẫu thuật cao (> 5 mg/mL) có thể có tiên lượng xấu, nhưng các dữ liệu không đủ để hỗ trợ việc sử dụng CEA để xác định liệu có nên điều trị bổ trợ cho bệnh nhân hay không.

Các nghiên cứu được công bố gần đây cho thấy ý nghĩa của CEA trước phẫu thuật là yếu tố tiên lượng. Cụ thể, một nghiên cứu trên 2.230 bệnh nhân đã chứng minh rằng CEA trước phẫu thuật là một biến tiên lượng độc lập quan trọng trong việc tiên lượng kết quả điều trị ; và nghiên cứu trên 1.146 bệnh nhân ung thư trực tràng sử dụng phân tích đa biến cho thấy rằng nồng độ CEA trước phẫu thuật vẫn là một biến số tiên lượng có ý nghĩa. Những dữ  liệu này, cùng với những dữ liệu đã được tổng kết năm 2000, cho phép  ASCO, cũng như EGTM, khuyến cáo rằng CEA nên được thực hiện trước phẫu thuật để cung cấp thông tin tiên lượng. Hơn nữa, đánh giá CEA trước phẫu thuật có ích cho việc theo dõi sau phẫu thuật. Nồng độ CEA trước phẫu thuật cao có ích cho việc theo dõi. Điều quan trọng được nhấn mạnh là nồng độ CEA có thể khác nhau giữa các phòng thí nghiệm và quốc gia.

CEA trước phẫu thuật ở những bệnh nhân di căn gan đã phẫu thuật ảnh hưởng đến tiên lượng, và việc đánh giá trong trường hợp này cũng được chỉ định. Hai nghiên cứu lớn nhận thấy rằng CEA tiền phẫu là yếu tố quan trọng quyết định tiên lượng. Hai nghiên cứu nhỏ chứng tỏ vai trò của CEA trong việc xác định tiên lượng. Ví dụ, CEA dưới 30 ng/mL có tỷ lệ sống trung bình là 34,8 tháng trong khi tỷ lệ sống trung bình là 22 tháng nếu CEA cao hơn 30 ng/mL. Mức CEA cũng có giá trị tiên lượng sau phẫu thuật đối với bệnh nhân di căn gan. Tương tự, CEA trước phẫu thuật cũng có giá trị tiên lượng cho bệnh nhân được phẫu thuật cắt bỏ di căn phổi.

Khuyến cáo năm 2006 về xét nghiệm CEA sau phẫu thuật.

Xét nghiệm CEA huyết thanh sau phẫu thuật nên được thực hiện 3 tháng một lần ở những bệnh nhân bị bệnh giai đoạn II hoặc III trong ít nhất 3 năm sau khi chẩn đoán và được chỉ định phẫu thuật hoặc điều trị toàn thân. Nồng độ CEA cao, nếu đã được làm lại xét nghiệm, đánh giá thêm để xác định liệu bệnh di căn chưa, nhưng không lấy đó làm cơ sở điều trị bổ trợ hoặc điều trị toàn thân cho bệnh nghi ngờ di căn. Nồng độ CEA cao trong vòng một hoặc hai tuần sau hóa trị nên được đánh giá cẩn thận.

Khuyến cáo năm 2006 về xét nghiệm CEA để theo dõi ung thư đại trực tràng di căn.

CEA là dấu ấn được lựa chọn để theo dõi ung thư đại trực tràng di căn trong khi điều trị toàn thân. Nên định lượng CEA khi bắt đầu điều trị bệnh nhân di căn và cứ sau 1-3 tháng trong khi điều trị. Các giá trị tăng liên tục trên đường ngưỡng bình thường  nên cân nhắc đánh giá lại giai đoạn, gợi ý bệnh tiến triển. Cần thận trọng khi giải thích mức độ CEA tăng cao trong 4 đến 6 tuần đầu khi điều trị liệu pháp mới, vì có thể xảy ra tăng sớm giả, đặc biệt sau khi sử dụng oxaliplatin.

Nói chung, tăng CEA trong khi điều trị cho thấy sự tiến triển của bệnh. CEA tăng nên đánh giá lại và xem xét một chiến lược điều trị thay thế. Có một số ngoại lệ. Hóa trị có thể làm tăng nhanh CEA; tăng CEA đơn thuần không nên được xem là bằng chứng về sự tiến triển của bệnh, đặc biệt ngay sau khi bắt đầu hóa trị. Tăng CEA liên quan đến hóa trị có thể liên quan thay đổi chức năng gan do điều trị. Các nguyên nhân khác không liên quan đến ung thư gây CEA tăng cao bao gồm viêm dạ dày, bệnh loét dạ dày tá tràng, viêm túi thừa, bệnh gan, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tiểu đường và bất kỳ trạng thái viêm cấp tính hoặc mãn tính nào.

Nguồn:  ASCO 2006 Update of Recommendations for the Use of Tumor Markers in Gastrointestinal Cancer

http://ascopubs.org

Please follow and like us:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Follow by Email
Facebook
Google+
http://www.ungthuvn.com/cap-nhat-khuyen-cao-ve-su-dung-cea-trong-ung-thu-dai-truc-trang">
Twitter
YouTube